Các giai đoạn và phương pháp điều trị ung thư đại trực tràng

106

Qua nghiên cứu, các nhà khoa học đã mang đến nhiều thành tựu trong điều trị ung thư đại trực tràng. Việc lựa chọn phương pháp điều trị ung thư đại trực tràng được lựa chọn dựa trên giai đoạn bệnh và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Bài viết này sẽ giúp các bạn hiểu hơn về các giai đoạn bệnh ung thư đại trực tràng, phương pháp điều trị và lưu ý khi chăm sóc bệnh nhân.

Các giai đoạn và phương pháp điều trị ung thư đại trực tràng

Các giai đoạn ung thư đại trực tràng
Giai đoạn 0: Ung thư chỉ được tìm thấy ở lớp niêm mạc trong cùng của đại tràng hoặc trực tràng. Ung thư biểu mô tại chỗ là một tên khác cho ung thư đại trực tràng Giai đoạn 0.
Giai đoạn I: Khối u đã phát triển vào thành trong của đại tràng hoặc trực tràng. Khối u chưa phát triển vượt qua thành.
Giai đoạn II: Khối u phát triển sâu hơn vào trong hoặc xuyên qua thành đại tràng hoặc trực tràng. Nó có thể đã xâm lấn các mô lân cận, nhưng các tế bào ung thư chưa lây lan đến các hạch bạch huyết.
– Giai đoạn III: Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết gần đó, nhưng chưa đến các bộ phận khác của cơ thể.
– Giai đoạn IV: Ung thư đã lan ra các bộ phận khác của cơ thể, như gan hoặc phổi.
– Tái phát: Đây là ung thư đã được điều trị và tái phát trở lại sau một khoảng thời gian khi ung thư không thể được phát hiện. Bệnh có thể tái phát trở lại trong đại tràng hay trực tràng, hoặc trong một bộ phận khác của cơ thể.

Các giai đoạn và phương pháp điều trị ung thư đại trực tràng

Phương pháp điều trị ung thư đại trực tràng
Phẫu thuật: thông thường, bác sĩ phẫu thuật cắt bỏ khối u cùng với một phần đại tràng hoặc trực tràng và các hạch lân cận. Trong hầu hết các trường hợp, bác sĩ có thể nối lại những phần còn lành của đại tràng hoặc trực tràng. Khi không thể nối lại những phần còn lành, cần phải thực hiện phẫu thuật mở thông đại tràng tạm thời hoặc vĩnh viễn. Mở thông đại tràng là một phẫu thuật tạo đường thông từ đại tràng ra thành bụng để tạo ra một con đường mới đưa chất thải ra ngoài. Sau phẫu thuật mở thông đại tràng, bệnh nhân cần mang một túi đặc biệt để đựng chất thải. Một số bệnh nhân cần phẫu thuật mở thông đại tràng tạm thời để cho phép đại tràng dưới và trực tràng liền lại sau khi phẫu thuật. Khoảng 15% bệnh nhân ung thư đại-trực tràng cần phải được mở thông đại tràng vĩnh viễn.
Hóa trị: hóa trị sử dụng các loại thuốc chống ung thư để thu nhỏ/tiêu diệt các tế bào ung thư. Các loại thuốc đi vào máu và có thể tác động đến các tế bào ung thư khắp cơ thể. Sau khi phẫu thuật ung thư đại trực tràng, một số bệnh nhân có thể có vi di căn (các di căn rất nhỏ không thể phát hiện được). Hóa trị được dùng ngay sau phẫu thuật để tiêu diệt các tế bào ung thư được gọi là hóa trị bổ trợ. Các nghiên cứu gần đây cho thấy sự tăng khả năng sống còn và làm chậm sự tái phát của khối u ở những bệnh nhân được hóa trị bổ trợ trong vòng 5 tuần sau phẫu thuật . Hầu hết các phác đồ thuốc bao gồm việc dùng chất fluorauracil-5 (5-FU). Mặt khác, kết quả việc dùng hóa trị liệu đề giảm hoặc kiểm soát khối u là đáng thất vọng. Chưa có bằng chứng hóa trị liệu cải thiện khả năng sống còn tổng thể ở những bệnh nhân đại tràng đã di căn.
– Liệu pháp nhắm trúng đích: một số người bị ung thư đại trực tràng đã di căn được điều trị bằng liệu pháp nhắm trúng đích. Bệnh nhân được cho sử dụng các loại thuốc hoặc các chất có thể ngăn chặn sự phát triển và lây lan của ung thư. Các loại thuốc này có tác dụng can thiệp vào các phân tử cụ thể liên quan đến sự phát triển và lây lan của khối u.
– Liệu pháp sinh học: còn được gọi là liệu pháp miễn dịch, sử dụng hệ thống miễn dịch của cơ thể để chống lại ung thư. Hệ thống miễn dịch của cơ thể tìm kiếm tế bào ung thư trong cơ thể và tiêu diệt chúng. Các liệu pháp sinh học được sử dụng để sửa chữa, kích thích hoặc tăng cường chức năng chống lại ung thư tự nhiên của hệ thống miễn dịch. Có thể điều trị bằng liệu pháp sinh học trước khi phẫu thuật, đơn độc hoặc phối hợp với hóa trị liệu hoặc tia xạ trị liệu. Hầu hết các loại thuốc sử dụng trong liệu pháp sinh học được tiêm trực tiếp vào tĩnh mạch.
– Xạ trị: tia xạ trị liệu là phương pháp điều trị tại chỗ, có nghĩa là nó chỉ ảnh hưởng tới tế bào ung thư ở vùng chiếu xạ.

Chăm sóc bệnh nhân ung thư đại trực tràng
Chăm sóc theo dõi sau điều trị ung thư đại trực tràng rất quan trọng. Ung thư có thể tái phát gần vị trí ban đầu hoặc di căn xa như gan, phổi. Cần đi kiểm tra định kỳ theo chỉ định của bác sĩ và làm các xét nghiệm theo dõi, thông thường sẽ bao gồm các xét nghiệm sau:
– Men gan: men gan bất thường có thể gợi ý di căn gan
– CT vùng bụng: có thể thấy khối u trong gan,xương chậu hoặc 1 số cơ quan khác
Xquang phổi
– Xét nghiệm dấu ấn ung thư CEA: CEA có thể tăng cao trước phẫu thuật và trở về bình thường sau phẫu thuật. Việc tăng cao dần chỉ số CEA chỉ điểm ung thư tái phát.
– Nội soi đại tràng: khảo sát sự tái phát của polyp hay ung thư đại trực tràng.
Ngoài việc kiểm tra ung thư tái phát, ung thư đại trực tràng có thể có nguy cơ cao ung thư tuyến tiền liệt, ung thư vú, ung thư buồng trứng. Vì vậy cũng cần thăm khám, theo dõi những cơ quan này.

Xem thêm: Dấu hiệu nhận biết sớm ung thư đại trực tràng