Khám tầm soát ung thư vú cần làm những gì?

206

Ung thư vú có tỉ lệ mắc cao nhất ở nữ giới, ở giai đoạn sớm có thể phát hiện bằng cách tầm soát. Vì vậy, hiểu khám tầm soát ung thư vú như thế nào là điều rất cần thiết.

Khám tầm soát ung thư vú cần làm những gì?
Chụp Mamography tuyến vú kết hợp xét nghiệm dấu ấn ung thư CA15-3 giúp phát hiện sớm ung thư vú

Ung thư vú phát hiện sớm sẽ giúp bệnh nhân có thể chọn phương pháp bảo tồn (chỉ loại bỏ khối u) giữ nguyên bầu ngực, đảm bảo thẩm mỹ. Dưới đây là phương pháp khám tầm soát ung thư vú:

  1. Khám lâm sàng

Phụ nữ từ 20 đến 30 tuổi nên khám lâm sàng tuyến vú hàng năm. Nếu có những dấu hiệu bất thường ở vú, người bệnh có thể thực hiện chụp X quang tuyến vú hoặc siêu âm để xác định bệnh.

Ngoài ra tự khám vú tại nhà cũng là một cách hiệu quả để phát hiện sớm bệnh ung thư vú.

  1. Chụp X-Quang tuyến vú (chụp nhũ ảnh):

Phương pháp này được sử dụng đầu tiên vào năm 1913 trên tuyến vũ đã phẫu thuật, năm 1930 được sử dụng trên bệnh nhân, năm 1950-1960 được báo cáo có thể phát hiện ung thư vú không sờ thấy bằng lâm sang. Sau đó các nhà khoa học chứng minh kết quả của nhũ ảnh phát hiện những tổn thương vi vôi hóa mà lâm sang không sờ thấy được.

Hiện nay chụp X quang tuyến vú là một trong những phương tiện quan trọng để tầm soát và chẩn đoán sớm ung thư vú. Phụ nữ từ 40 tuổi trở lên nên tiến hành chụp X quang định kỳ 1 lần/năm theo tư vấn của các bác sỹ.

Tuy nhiên chụp X quang tuyến vú khó có thể phát hiện thấy khối u ở những phụ nữ trẻ do mô vú ở độ tuổi này khá dày đặc.

  1. Siêu âm tuyến vú:

Siêu âm được sử dụng để đánh giá những bất thường ở vú khi phát hiện bằng nhũ ảnh hoặc khám lâm sang. Siêu âm vú phát hiện được u nang hay bướu đặc, giúp cung cấp thông tin về bản chất và giới hạn của bướu đặc và những tổn thương khác ở vú.

  1. Chụp cộng hưởng từ (MRI):

MRI được chứng minh là công vụ hỗ trợ cho nhũ ảnh trong trường hợp có đột biến BRCA giúp phát hiện ung thư giai đoạn sớm.

Chụp cộng hưởng từ cho hình ảnh có chất lượng cao và độ phân giải tốt, giúp bác sỹ đánh giá chi tiết các tổn thương và chẩn đoán bệnh chính xác, trong nhiều trưởng hợp là tốt hơn so với các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh khác như siêu âm, X quang và chụp cắt lớp CT.

Tuy nhiên một nhược điểm đáng kể của chụp MRI tuyến vú là cho kết quả dương tính giả, nói cách khác xét nghiệm này tìm ra những điểm ban đầu trông có vẻ đáng nghi nhưng không phải là ung thư.

  1. Sinh thiết vú

Các bác sỹ sẽ lấy ra một mẫu mô rất nhỏ từ vú, các mô này sẽ được thử nghiệm và kiểm tra dưới kính hiển vi để phát hiện bệnh. Sinh thiết được tiến hành để khẳng định chẩn đoán. Vì đây là một kỹ thuật khá phức tạp nên người ta chỉ thực hiện sinh thiết khi đã thực hiện những kỹ thuật đơn giản hơn (chụp X quang, siêu âm) mà vẫn chưa xác định được bệnh.

  1. Xét nghiệm tế bào học

Đây là kỹ thuật chuẩn đoán nhanh trong y học nhằm phát hiện bệnh ung thư. Theo đó, người ta sử dụng một chiếc kim ngắn, nhỏ hơn kim lấy máu để lấy tế bào của khối u vùng vú, da, tuyến giáp, hạch và tuyến nước bọt… phân tích dưới kính hiển vi. Mục đích của xét nghiệm tế bào học là nhằm phát hiện ung thư.

Sau khi thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu cần thiết, các bác sỹ sẽ đưa ra chẩn đoán bệnh. Ung thư vú sẽ được đánh giá theo các giai đoạn. Giai đoạn của ung thư vú đóng vai trò quan trọng trong lựa chọn phương pháp điều trị.